Kinh tế Việt Nam khép lại chín tháng năm 2026 với mức tăng trưởng GDP 9,01%. Tuy nhiên, phía sau con số tăng trưởng cao là một cấu trúc ngày càng phân hóa: sản xuất, xuất khẩu và tích lũy tài sản tăng mạnh, trong khi cầu nội địa tăng chậm hơn. Cán cân thương mại tháng 9 quay lại xuất siêu là tín hiệu tích cực, nhưng mức hưởng lợi từ chu kỳ tăng trưởng càng· có sự khác biệt lớn giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước.
GDP quý III/2026 tăng 9,95% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng của hai quý đầu năm và đưa tăng trưởng chín tháng lên 9,01%. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp gần một nửa vào mức tăng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và hoạt động đầu tư đều duy trì tốc độ cao.
Điểm đáng chú ý vì vậy không còn nằm ở câu hỏi nền kinh tế có tăng trưởng hay không, mà ở cấu trúc của tăng trưởng. Dữ liệu chín tháng cho thấy động lực đang nghiêng rõ hơn về sản xuất, xuất khẩu và tích lũy tài sản, trong khi sức cầu trong nước tuy tiếp tục tăng nhưng chưa theo kịp.
Tích lũy tài sản đang trở thành một động lực nổi bật
Trong cơ cấu sử dụng GDP chín tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51%, trong khi tích lũy tài sản tăng 17,88%. Riêng quý III, khoảng cách còn lớn hơn khi tích lũy tài sản tăng 21,39% còn tiêu dùng cuối cùng tăng 8,96%.
Đây là một thay đổi đáng chú ý trong chất lượng của tăng trưởng. Nền kinh tế đang gia tăng tài sản với tốc độ gần gấp đôi tiêu dùng, cho thấy một phần đáng kể nguồn lực hiện tại đang được dành cho việc mở rộng quy mô hoạt động thay vì được hấp thụ ngay qua tiêu dùng. Nếu các tài sản này được khai thác hiệu quả, chúng có thể tạo thêm năng lực tăng trưởng cho các giai đoạn tiếp theo. Ngược lại, khi lượng tài sản tăng nhanh, yêu cầu về sản lượng, doanh thu và dòng tiền tạo ra từ những tài sản đó cũng sẽ ngày càng cao hơn.
Sản xuất tăng mạnh, nhưng cầu nội địa chưa theo kịp
Chỉ số sản xuất công nghiệp trong chín tháng tăng 12,3%; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Trong khi đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% theo giá hiện hành nhưng chỉ tăng 7,8% sau khi loại trừ yếu tố giá. Tiêu dùng cuối cùng trong GDP cũng tăng 8,51%, thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng của sản xuất và tích lũy tài sản.
Khoảng cách này cho thấy động lực kinh tế trong nước chưa hoàn toàn đồng đều. Sức mua vẫn tăng, nhưng tốc độ thấp hơn phần sản xuất của nền kinh tế. Điều đó đặc biệt đáng chú ý đối với các ngành phụ thuộc nhiều vào thị trường nội địa, nơi tăng trưởng doanh số có thể không thuận lợi tương ứng với mức tăng GDP chung.
Ở chiều ngược lại, khu vực sản xuất được hỗ trợ mạnh bởi thị trường bên ngoài. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ theo GDP tăng 21,29% trong chín tháng, còn kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 24,5%. Vì vậy, sản xuất vẫn có thể duy trì tốc độ cao ngay cả khi cầu tiêu dùng trong nước tăng chậm hơn. Bức tranh hiện tại cho thấy tăng trưởng đang được dẫn dắt mạnh hơn bởi sản xuất và xuất khẩu, trong khi khu vực phụ thuộc nhiều vào cầu nội địa có thể đang đối mặt với môi trường khó khăn hơn.
Xuất khẩu tăng mạnh nhưng mức hưởng lợi giữa các khu vực rất khác nhau
Sự phân hóa còn thể hiện rõ trong cơ cấu xuất khẩu. Chín tháng năm 2026, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 83,89 tỷ USD, tăng 7,5% và chỉ chiếm 19,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 350,41 tỷ USD, tăng 29,4% và chiếm tới 80,7% tổng kim ngạch.
Cán cân thương mại cũng cho thấy sự khác biệt tương tự. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 34,28 tỷ USD, trong khi khu vực FDI xuất siêu 14,86 tỷ USD. Điều này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu mạnh của Việt Nam hiện tập trung đáng kể ở khu vực FDI và các chuỗi sản xuất hướng ra thị trường quốc tế, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước hưởng lợi ở mức thấp hơn.
Đây là một điểm quan trọng khi đánh giá sức khỏe thực của khu vực doanh nghiệp. Tăng trưởng xuất khẩu chung rất cao không đồng nghĩa tất cả doanh nghiệp đều đang trải qua cùng một chu kỳ thuận lợi. Khoảng cách giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước cho thấy ngày càng phân hóa nhiều hơn.

Hoạt động đầu tư tiếp tục mở rộng ở mức cao
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong chín tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực Nhà nước đạt 931,0 nghìn tỷ đồng, tăng 17,3%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.649,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,0%; khu vực FDI đạt 529,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5%.
FDI thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất của chín tháng trong các năm từ 2022 đến nay. Cùng với tốc độ tích lũy tài sản 17,88%, các số liệu này cho thấy nền kinh tế đang bước qua một giai đoạn mở rộng mạnh về quy mô hoạt động và tài sản.
Điểm cần theo dõi trong những giai đoạn tiếp theo là tốc độ tạo ra sản lượng và thu nhập từ quá trình mở rộng này. Khi tài sản tăng nhanh hơn GDP và tiêu dùng, chất lượng của tăng trưởng sẽ ngày càng phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng những tài sản đã được hình thành.
Tháng 9 quay lại xuất siêu sau chín tháng liên tiếp nhập siêu
Tính chung chín tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD. Xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%, trong khi nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng mạnh hơn ở mức 36,7%. Cán cân thương mại chín tháng vì vậy vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Tuy nhiên, diễn biến riêng tháng 9 đã có sự thay đổi đáng chú ý. Cán cân thương mại hàng hóa quay lại xuất siêu 1,27 tỷ USD sau chín tháng liên tiếp nhập siêu. Xuất khẩu tháng 9 đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước, trong khi nhập khẩu đạt 58,21 tỷ USD, tăng 6,0%.
Sự cải thiện trong tháng 9 chưa đủ để xóa đi mức nhập siêu lớn của chín tháng, nhưng cho thấy tốc độ xuất khẩu đã bắt đầu vượt nhập khẩu trong tháng. Nếu xu hướng này tiếp tục trong quý IV, cán cân thương mại có thể cải thiện đáng kể hơn so với giai đoạn đầu năm.
Nhập khẩu cao phản ánh cường độ của chu kỳ sản xuất
Cơ cấu nhập khẩu cho thấy phần lớn nhu cầu nhập hàng hiện nay gắn với hoạt động sản xuất. Trong chín tháng, nhóm tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng chiếm 58,3%, còn nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%.
Đáng chú ý, điện tử, máy tính và linh kiện nhập khẩu đạt gần 188,94 tỷ USD, tăng 71,7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt gần 53,95 tỷ USD, tăng 21,9%. Điều này cho thấy mức nhập khẩu cao đang đi cùng với quá trình mở rộng sản xuất và các chuỗi công nghiệp, thay vì chủ yếu đến từ nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu.
Vì vậy, cán cân thương mại trong thời gian tới sẽ phụ thuộc đáng kể vào việc tốc độ xuất khẩu có bắt kịp chu kỳ nhập khẩu đầu vào hay không. Việc tháng 9 quay lại xuất siêu là tín hiệu tích cực đầu tiên, nhưng lũy kế chín tháng vẫn cho thấy nền kinh tế đang cần một lượng đầu vào nhập khẩu rất lớn để duy trì tốc độ tăng trưởng hiện tại.
Tăng trưởng mạnh nhưng ngày càng phân hóa
Nhìn tổng thể, dữ liệu chín tháng cho thấy một nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhưng không đồng đều giữa các động lực. GDP tăng 9,01%, IIP tăng 12,3%, tích lũy tài sản tăng 17,88%, xuất khẩu hàng hóa tăng 24,5% và vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 15,1%. Trong khi đó, bán lẻ thực tăng 7,8% và tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51%.
Cấu trúc này cho thấy phần sản xuất, xuất khẩu và tích lũy tài sản đang đi trước sức cầu nội địa. Xuất khẩu mạnh giúp duy trì tốc độ sản xuất cao, nhưng tăng trưởng xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực FDI, trong khi khu vực kinh tế trong nước có tốc độ xuất khẩu thấp hơn nhiều và vẫn nhập siêu lớn.
Vì vậy, thách thức của giai đoạn tiếp theo không nằm ở việc duy trì tăng trưởng về mặt số lượng đơn thuần. Quan trọng hơn là khả năng lan tỏa tăng trưởng sang khu vực doanh nghiệp trong nước, cải thiện sức cầu nội địa và nâng hiệu quả của lượng tài sản đang được tích lũy với tốc độ cao.
Hàm ý đối với lãnh đạo doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp phục vụ thị trường nội địa, dữ liệu chín tháng cho thấy cần thận trọng khi sử dụng tốc độ tăng GDP làm đại diện cho sức mua. Tiêu dùng vẫn tăng, nhưng thấp hơn đáng kể so với sản xuất, xuất khẩu và tích lũy tài sản. Kế hoạch doanh thu vì vậy cần dựa nhiều hơn vào sức mua thực của từng phân khúc, khả năng điều chỉnh giá và tốc độ quay vòng hàng hóa.
Đối với doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, thị trường bên ngoài đang là một động lực lớn hơn. Tuy nhiên, sự tập trung của xuất khẩu vào khu vực FDI cũng cho thấy doanh nghiệp trong nước cần nâng khả năng tham gia vào các chuỗi sản xuất đang mở rộng tại Việt Nam. Cơ hội không chỉ nằm ở xuất khẩu trực tiếp mà còn ở khả năng cung cấp sản phẩm, linh kiện và dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn.
Tốc độ tích lũy tài sản cao cũng đặt ra yêu cầu rõ hơn về hiệu quả. Doanh nghiệp không nên đánh giá một kế hoạch mở rộng chỉ qua quy mô tài sản hoặc doanh thu dự kiến, mà cần xem lượng tài sản bổ sung sẽ tạo ra bao nhiêu doanh thu, lợi nhuận và dòng tiền. Khi thị trường nội địa tăng chậm hơn sản xuất, việc mở rộng quá nhanh mà chưa xác định chắc đầu ra có thể làm tăng tồn kho, công nợ và nhu cầu tài trợ.
Trong bối cảnh này, tái cấu trúc doanh nghiệp cần tập trung vào chất lượng tài sản, hiệu quả vận hành và khả năng tạo tiền. Các quyết định huy động vốn hoặc M&A cũng cần xuất phát từ một chiến lược tăng trưởng rõ ràng: nguồn lực mới sẽ được sử dụng vào đâu, tài sản nào thực sự cần thiết và khả năng tạo dòng tiền sau giao dịch có đủ để hỗ trợ quy mô mới hay không.
Thông điệp quan trọng từ dữ liệu chín tháng vì vậy không chỉ là Việt Nam đang tăng trưởng nhanh. Tăng trưởng đang được dẫn dắt mạnh bởi sản xuất, xuất khẩu và tích lũy tài sản, trong khi cầu nội địa và khu vực doanh nghiệp trong nước chưa theo kịp với cùng tốc độ. Đối với lãnh đạo doanh nghiệp, lợi thế trong giai đoạn tiếp theo sẽ thuộc về những đơn vị có khả năng lựa chọn đúng thị trường, sử dụng tài sản hiệu quả và duy trì dòng tiền trong quá trình mở rộng.
Nguồn số liệu: Cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý III và chín tháng năm 2026.
Ảnh: Nguyễn Vinh Quang
EPS – Tái cấu trúc doanh nghiệp | Huy động vốn & M&A
EPS đồng hành cùng chủ doanh nghiệp và đội ngũ lãnh đạo trong tái cấu trúc doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và chuẩn bị nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo; đồng thời tư vấn huy động vốn và M&A để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và các phương án giao dịch phù hợp với chiến lược tăng trưởng.
Nâng tầm Doanh nghiệp. Khai mở Nguồn vốn.





